Hôm nay: ngày 19 tháng 09 năm 2014

Thông Tin Thị Trường

Loại hàng
 Đơn giá
Ngày
I.Urê hạt trong (FOB) USD/Tấn
Urê Baltic 295-300 17/4/2014
Urê Yuzhnyy 298-300 17/4/2014
Đông Nam Á 300-320 17/4/2014
Trung Quốc
285-290 17/4/2014
II.Urê hạt đục (FOB) USD/Tấn
Đông Nam Á 300-315 17/4/2014
Trung Quốc
297-305 17/4/2014

III.Giá trong nước (KvĐNB)

đồng/kg


Đạm Phú Mỹ

8.100-
8.200

17/4/2014
NPK Phú Mỹ
10.200 17/4/2014
Urê TQ 7.500 17/4/2014
DAP TQ - -
Kali C.I.S(bột)
7.400 17/4/2014
NPK Phil 12.000 17/4/2014

Quy trình kỹ thuật cây Ngô

1. Chọn giống ngô
        Nên chọn giống ngô tốt, năng suất cao, có thời gian sinh trưởng phù hợp. Trên cơ sở giống ngô đã khuyến cáo để lựa chọn giống ngô cho phù hợp trong từng vụ, phù hợp với cơ cấu cây trồng ở địa phương. Né tránh những bất lợi, tận dụng tối đa những thuận lợi về đất đai, nhiệt độ, ánh sáng.... Hiện nay, một số giống ngô tốt cho năng suất cao đang được khuyến cáo sử dụng như: T3, T5, T6, Bio-Seed,, VN10, VN14 và một số giống địa phương: Mỡ, vàng nghệ...

2. Thời vụ
 Là 1 yếu tố khá quan trọng tuy nhiên, tùy điều kiện cụ thể từng nơi mà chọn thời vụ trồng ngô cho thích hợp.
        - Đối với ngô đông xuân thì gieo từ 15/11- 15/12.
        - Đối với ngô xuân thì gieo từ 15/1- 15/2.
        - Đối với ngô hè thu thì gieo từ đấu tháng 6 đến giữa tháng 7.

    3. Xử lý hạt giống trước khi gieo.
 Để phòng trừ sâu bệnh giai đoạn đầu vụ đồng thời tạo điều kiện thích hợp để thúc đẩy quá trình mọc mầm của hạt ngô ta cần tiến hành xử lý hạt giống trước khi gieo bằng phương pháp:
           Ngâm hạt vào nước vôi trong khoảng 4-8h để diệt nấm bệnh hoặc ngâm vào nước ở nhiệt độ 30-400C (2 sôi + 3 lạnh). Ngoài ra có thể sử dụng một số hóa chất để ngâm hạt đem lại hiệu quả cao.

    4. Đất trồng ngô
Trồng ngô thích hợp nhất là trên đất thịt nhẹ, độ màu mỡ cao, dễ thoát nước, đủ ẩm nhưng không bị úng. Do đó khi trồng ngô phải làm đất tơi xốp, sâu, thoáng, giữ ẩm tốt, bừa kỹ sạch cỏ dại.

    5. Mật độ khoảng cách
Mỗi vùng, mỗi giống cần áp dụng khoảng cách gieo hợp lý, để tận dụng tối đa dinh dưỡng đất và thời gian chiếu sáng, cũng như cường độ chiếu sáng  nhằm đạt năng suất cao nhất. Đối với đất tốt hoặc cường độ chiếu sáng yếu thì cần trồng ngô với mật độ thưa.
Tùy thuộc vào thời gian sinh trưởng của giống và đặc tính của giống ngô.
       + Đối với giống ngắn ngày: Mật độ 6-8 vạn cây/ha.
          Khoảng cách: 60cm x 25cm x 1cây.
       + Đối với giống trung bình: Mật độ 5-7 vạn cây/ha
   Khoảng cách: 80cm x 40-50cm x 2cây.
       + Đối với giống dài ngày:Mật độ 4-5 vạn cây/ha.
          Khoảng cách: 70-80cm x 25cm x 1 cây hoặc 70cm x 40-50cm x 2 cây.

    6. Bón phân cho Ngô
Muốn cho ngô dạt năng suất cao phải bón đủ lượng phân bón và khi bón phân phải dựa vào mùa vụ, khả năng phát triển của rễ, thân, nhu cầu sinh lý về phân bón, đồng thời dựa vào hàm lượng dinh dưỡng trong đất.
Lượng phân bón:          + Phân chuồng: 10-15 tấn/ha.
                                      + Đạm Ure: 300-400 kg/ha.
                                      + Supe lân: 300-450 kg/ha.
                                      + Kali: 120-150 kg/ha.
Đối với đất bãi ven sông được bồi hàng năm, đất phát triển trên đá bazan thì không cần bón phân chuồng.
              * Cách bón:
-Đối với điều kiện ít phân với giống ngô dài ngày
 + Bón lót: bón toàn bộ phân chuồng + toàn bộ lân + 1/3 đạm (bón vào rãnh hoặc vào hốc lấp 1 lớp đất mỏng rồi mới gieo hạt).
 + Bón thúc: bón làm 2 đợt:
       Đợt 1: khi ngô 3-4 lá bón 1/3 đạm + 1/2 kali
       Đợt 2: khi ngô 7-9 lá bón 1/3 đạm + 1/2 kali
- Đối với điều kiện nhiều phân và giống ngô dài ngày
       + Bón lót: bón toàn bộ phân chuồng + toàn bộ lân + 1/3 đạm + 1/3 kali (bón vào rãnh hoặc vào hốc lấp 1 lớp đất mỏng rồi mới gieo hạt).
+ Bón thúc: bón làm 3 đợt:
        Đợt 1: khi ngô 3-4 lá bón 1/3 đạm
        Đợt 2: khi ngô 7-9 lá bón 1/3 đạm + 1/3 kali
        Đợt 3: bón trước trổ cờ: 1/3 kali

     7. Chăm sóc
- Dặm hạt khi điều kiện thời tiết thuận lợi.
- Dặm bầu khi tranh thủ thời vụ lúc ngô 3-4 lá.
- Tỉa định cây lúc cây ngô 5 lá và ổn định mật độ khi ngô 6-7 lá.
- Xới sáo để đất tơi xốp và giữ ẩm, xới phá ván sau mưa vào kỳ cây con
- Vun gốc vừa kết hợp làm cỏ sau khi bón thúc đợt 1.
- Vun cao gốc kết hợp làm cở lần cuối cho ngô khi bón thúc lần 2.
- Tưới nước: đựa vào nhu cầu sinh trưởng của cây tưới nước 3 lần:
  + Lần 1: khi cây 7-9 lá tưới ngập 1/3 luống sau khi bón thúc
  + Lần 2: trước trổ cờ 10-15 ngày tưới ngập 2/3 luống thấm đều rồi rút cạn.
   + Lần 3: sau thụ tinh xong tưới ngập 1/3 luống rồi rút cạn.
Đồng thời khi tưới nước cần dựa vào thời tiết, ẩm độ đất, đặc điểm giống.
- Sau khi cây trổ cờ phun râu ta có thể tiến hành bấm bỏ 10-15% cờ trên cây sấu, hoặc bẻ cờ sau khi thụ tinh xong để tập trung đinh dưỡng về bắp hoặc thụ phấn bổ khuyết.
       8. Phòng trừ sâu bệnh hại ngô:
Trên ngô có các loại sâu bệnh hại thường gặp là: sâu xám, sâu đục thân và đục bắp, rệp cờ, bệnh khô vằn, đốm lá, bệnh phấn đen...
Đối với sâu hại: ta cần thực hiện vệ sinh đồng ruộng, gieo đúng thời vụ, tâp trung, đúng mật độ, ruộng được dọn sạch cỏ dại, chăm sóc cây tốt để có thể chống chịu được với sâu hại hoặc có thể sử dụng 1 số loại thuốc hóa học hoặc biện pháp sinh học để trừ sâu hại có hiệu quả.
Đối với bệnh hại: dùng biện pháp luân canh, xử lý hạt giống trước khi  gieo, sử dụng giống chống bệnh, vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch cỏ dại, tồn dư cây trồng, tăng cường bón vôi, kali để hạn chế mầm bệnh trong đất. Đồng thời bón phân thích hợp làm cho cây sinh trưởng tốt hạn chế được bệnh cho cây ngô.
a) Sâu đục thân:
Sau khi nở, sâu ăn hết vỏ trứng và chất keo phủ ổ trứng, xong bò quanh ổ trứng một thời gian ngắn, sau đó phân tán nhả tơ nhờ gió đưa từ lá này sang lá khác hay từ cây này sang cây khác. Sâu gây hại mọi bộ phận của cây ngô tùy giai đoạn tăng trưởng của cây.
Sâu tuổi nhỏ thích các lá chưa mở ra, bẹ lá hay vỏ trái ngô hay râu ngô hoặc hoa đực (cờ ngô) vì ở tuổi 1 và 2 sâu chưa có khả năng đục vào thân. Tùy giai đoạn tăng trưởng của cây bắp mà sâu có cách gây hại khác nhau như sau:
*. Nếu ngô còn non, chưa có lóng, sâu chui vào loa kèn, ăn các lá còn cuốn lại.
*. Nếu ngô đã có lóng thì sâu chui vào nách lá và ăn ở mặt trong bẹ lá, sau đó đục vào thân, ngay phía trên mắt, và ăn dần lên. Sâu không thể đục qua mắt được nên phải chui ra ngoài mỗi khi muốn sang lóng khác. Trên một thân cây ngô có rất nhiều sâu sinh sống.
Ngoài thân cây ngô, sâu còn tấn công trên cờ ngô, lúc còn ở bên trong thân hay đã trổ, ăn hoa đực, nhất là hạt phấn còn non. Sâu còn tấn công vào trái nhưng chỉ ăn vỏ hoặc lõi trái ngô. Thiệt hại do sâu đục thân gây ra nặng nhất là ở giai đoạn ngô đã trổ cờ, làm gảy cây hay gảy cờ, có khi đến 50%.
Khi sống trên cờ ngô, ấu trùng phát triển nhanh hơn, thân to hơn và bướm đẻ nhiều trứng hơn. Sâu làm nhộng bên trong đường đục, ngay phía trên lổ đục vào, đầu quay xuống dưới gần lổ đục và có tơ bít kín miệng lổ đục lại. Đôi khi sâu bò ra ngoài và làm nhộng giữa bẹ và thân, nhất là lúc mưa nhiều.
Biện pháp phòng trừ:
Thu hoạch trái xong nên cắt thân cây sát gốc, chôn vùi hay cho gia súc ăn, dọn sạch ruộng ngô vì sâu và nhộng vẫn còn tồn tại trong thân cây ngô trong thời gian dài sau khi thu hoạch.
Nếu trồng ngô trong đầu mùa mưa thì phải trồng sớm đồng loạt. Nếu trồng trong vụ Đông - Xuân nên xuống giống trể hơn.
Sau vụ ngô nên luân canh với loại cây không phải là ký chủ của loài sâu này để cắt đứt nguồn thức ăn của sâu.
Dùng thuốc hột rải vào loa kèn hay nách lá xong tưới nước nhu: Basudin, Vibam, Regent.
Áp dụng thuốc nước ngay lúc bướm đang đẻ trứng hay sâu tuổi nhỏ đang còn ở trong nách lá hay trong loa kèn của cây bắp còn non.

b) Rầy mềm hại lá ngô
Rầy thường sống thành quần thể trên các bộ phận non như bẹ, lá non, bao cờ, có chỗ lẻ tẻ từ 5 - 7 con, có chỗ thành từng đám dày đặc. Rầy thích nhất ngô ở giai đoạn trổ cờ vì có nhiều chất dinh dưỡng. Cây còn non bị rầy tấn công sẽ còi cọc, phát triển kém và đôi khi không cho trái.
Nếu cây cho trái được thì trái sẽ nhỏ, chất lượng kém. Ngoài cách gây hại trực tiếp như trên, rầy mềm còn là môi giới truyền bệnh khảm cho cây ngô làm lá bị quăn queo, cây không phát triển bình thường và chết.
Biện pháp phòng trị:
Trước khi gieo trồng nên làm sạch cỏ chung quanh và ngay trong ruộng ngô để tránh rầy từ các ký chủ phụ bay sang.
Không nên trồng ngô với mật độ dày tạo ẩm độ thích hợp cho rầy phát triển.
Nếu mật số rầy ít, không nên áp dụng thuốc vì rầy có nhiều thiên địch.
Nếu mật độ cao có thể sử dụng một số thuốc hoá học như: Mospilan, Confidor
 c) Sâu đục trái
Bướm đẻ trứng trên râu trái ngô. Ấu trùng sau khi nở ra ăn trụi râu ngô và từ đó chui vào trái ngô ăn hết hạt ngô còn non, đặc biệt là sâu chỉ ăn hạt, đôi khi tấn công cả vỏ và cùi ngô nhưng rất hiếm. Sâu thường chui xuống đất để làm nhộng nhưng đôi khi cũng làm nhộng ngay tại nơi đang ăn trên trái ngô. Khi cây ngô còn non, chưa có trái, sâu đục xuyên qua loa kèn để ăn lá nên khi lá trổ ra sẽ có những hàng lổ đục thẳng thành hàng ngang qua phiến lá.
Biện pháp phòng trừ:
Những giống ngô có bao trái dài và chặt ít bị sâu gây hại hơn những giống có bao trái ngắn và không chặt.
Trên ruộng cà chua nên kiểm tra ruộng trồng thường xuyên để tỉa, cắt bớt cành hoặc ngắt bỏ bớt trái bị hại
Sử dụng thuốc hóa học khi thấy sâu xuất hiện trên râu trái ngô như: Monito, Faifos, Karate,.....
d) Bệnh đốm lá lớn (Leaf large spots)
Triệu chứng
Lúc đầu vết bệnh là những đốm nhỏ, hình bầu dục. Sau đó lớn rất nhanh, kéo dài theo gân lá. Kích thước vết bệnh trung bình từ 5-15 x 1.5-4 mm, tạo thành những hình thoi dài có khi tới 7-8 cm. Vết bệnh có màu nâu hoặc xám nâu, trong điều kiện thích hợp trên mặt vết bệnh hình thành một lớp nấm màu nâu xám. Khi bệnh nặng các vết bệnh liên kết với nhau làm cho phiến lá khô táp, có mầu trắng bạc.
Quy luật phát sinh gây hại
Bệnh đốm lá lớn thường phát sinh từ khi cây ngô có 7 – 8 lá trở đi, nhất là trong điều kiện ẩm ướt.
Nhiệt độ thích hợp từ 28 – 30 0C. Các lá già, lá bánh tẻ bên dưới bị bệnh trước, sau đó lan dần lên các lá phía trên ngọn và cả các lớp bao ngô.
Bệnh thường phát triển mạnh ở những ruộng ngô đất xấu và chăm sóc kém.
Biện pháp phòng trừ
Chăm sóc hợp lý, bón phân cân đối và đầy đủ để cây ngô phát triển tốt.
Vệ sinh đồng ruộng, phơi đất và đốt các tàn dư cây bệnh.
Luân canh cây trồng như trồng ngô với cây họ đậu hoặc luân canh với cây lúa nước.
Dùng các giống ngô kháng bệnh.
Dùng một số các loại thuốc hoá học trừ nấm như: BenZeb 70 WP, Carbenda 60 WP, khi bệnh mới xuất hiện từ 3 – 5 %.
e) Bệnh đốm lá nhỏ (Leaf small spots)
Triệu chứng
Khi bệnh còn non, vết bệnh nhỏ như mũi kim, màu hơi vàng. Sau đó vết bệnh lớn dần có hình tròn, bầu dục nhỏ hoặc hơi dài, ở giữa có màu nâu. Kích thước vết bệnh  khoảng 5-6 x 1.5-2 mm, gianh giới giữa vết bệnh và vùng khoẻ là một đường viền màu nâu đỏ, hoặc đôi khi có quầng vàng. Bệnh nặng các vết bệnh có thể liên kết với nhau, hoặc nhiều vết bệnh trên một lá ảnh hưởng tới khả năng quang hợp, cây yếu, còi cọc, làm giảm năng suất.
Quy luật phát sinh gây hại
Bệnh đốm lá nhỏ thường phát sinh sớm ngay từ khi cây ngô được 2 – 3 lá thật. Bệnh bắt đầu từ những lá gốc và lá bánh tẻ rồi sau đó lan dần lên các lá phía trên.
Nhiệt độ thích hợp từ 20 – 30 0C.
Bệnh phát triển trong điều kiện ấm, ẩm ướt.
Ngô trồng trên đất xấu, chăm sóc kém và khô hạn bệnh nặng.
       Biện pháp phòng trừ
Chăm sóc tốt, bón phân cân đối, đầy đủ tạo điều kiện cho cây phát triển mạnh và có khả năng kháng bệnh ngay từ ban đầu.
Vệ sinh đồng ruộng là khâu cơ bản phơi đốt các tàn dư cây bệnh.
Hạt giống sau khi thu hoạch cần phải được phơi sấy kỹ.
Luân canh cây ngô với cây trồng họ đậu vừa có tác dụng giảm nguồn bệnh ban đầu vừa có tác dụng cải tạo bồi dưỡng đất cho vụ sau.
Chọn giống ngô kháng bệnh.
Phun các loại thuốc trừ nấm khi bệnh mới phát triển từ 3 – 5% như: BenZeb 70 WP, Hinosan 30 EC.
f) Bệnh gỉ sắt (Rust)
Triệu chứng
Bệnh hại chủ yếu ở lá. Lúc đầu vết bệnh là những đốm chấm màu vàng sau đó lớn dần liên kết lại với nhau thành từng ổ, từng đám dầy bên trong chứa các bào tử mầu vàng nâu là các bào tử hạ. Sau đó chuyển màu nâu đen, đây là giai đoạn của bào tử đông. Bệnh nặng các vết bệnh dày đặc, phiến lá bị quăn queo, khô cháy, bệnh lan sang cả bẹ lá và các lá bao của bắp.
      Quy luật phát sinh gây hại
Bệnh gỉ sắt gây hại trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển của cây ngô.
Bào tử hạ xâm nhiễm trực tiếp vào các mô lá từ 7 – 10 ngày, sau sẽ phát sinh ở bào tử hạ mới. Bào tử hạ có thể nảy mầm trong điều kiện từ 4 – 32 0C, nhiệt độ thích hợp nhất là 17 – 18 0C.
Bệnh phát triển mạnh nhất trong điều kiện thời tiết mát mẻ, ẩm độ cao và có mưa. Các giống ngô Đường và ngô Nếp đều nhiễm bệnh nặng.
       Biện pháp phòng trừ
Vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch và phơi đốt hết các tàn dư cây bệnh.
Chăm sóc bón phân đầy đủ, cân đối tạo điều kiện cho cây có khả năng kháng bệnh tốt nhất.
Khi cần thiết dùng các loại thuốc hoá học trừ nấm như: Boocdo 1%, Funguran - OH 50 BHN, Bayleton 25 EC, Anvil 5 SC. Cần phải phun thuốc khi bệnh mới xuất hiện từ 1 – 5 %
g) Bệnh phấn đen (Ustilago maydis)
Triệu chứng
Bệnh gây hại trên tất cả các bộ phận của cây nhưng chủ yếu là ở ngô. Đặc trưng điển hình của bệnh là tạo thành các u sưng. Lúc đầu vết bệnh chỉ sùi lên như một cái bọc nhỏ, sau đó phình to được bọc bởi một lớp vỏ màu trắng phớt hồng, dần dần chuyển sang màu tro xám. Bên trong lúc đầu là một khối rắn màu vàng trắng, khi u bệnh già khối rắn vàng trắng chuyển dần sang khối bột màu đen, đó là khối bào tử hậu. Những bộ phận bị bệnh như thân, ngô đều bị sưng tạo thành các khối u, dị hình, thối hỏng, cây bị đổ gẫy, ngô bị thối hạt, không cho thu hoạch hoặc hạt đắng giảm phẩm chất.
       Quy luật phát sinh gây hại
Bệnh phấn đen có thể phát sinh gây hại trong suốt thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây ngô.
Nhiệt độ thích hợp nhất là từ 23 – 25 0 C.
Nấm bệnh xâm nhập qua vết thương cơ giới do mưa, gió hoặc vun xới.
Bệnh phát triển nặng ở các ruộng trồng dày và bón nhiều đạm vô cơ.
Biện pháp phòng trừ
Chọn giống chống bệnh.
Vệ sinh đồng ruộng, phơi đốt, tiêu huỷ các tàn dư cây bệnh.
Xử lý hạt trước khi gieo trồng bằng thuốc Thiram 85 WP, Tiptop 250 EC, phun thuốc sớm khi bệnh mới xuất hiện 1 – 5 %.
h) Bệnh thối thân và trái
  Triệu chứng:
 Thân và bẹ lá có triệu chứng như bị dập nhũn nước. Các lá dưới chết sớm, sau đó, mô cây bệnh có màu hơi nâu, bị thối mềm, chỉ còn lại những sợi mạch . Rể và trái cũng có thể bị tấn công. Bệnh thường xuất hiện ở phần gốc, làm cây bị gảy ngang, hoặc bệnh xuất hiện ở phần đọt, làm đọt thối.
Vi khuẩn làm cho mô cây rả ra và gây mùi thối đặc biệt, giống như ở bệnh Thối nhũn bắp cải. Chúng có khả năng xâm nhập qua vết thương, có thể lưu dẫn lên đọt hoặc xuống rể, có thể sống sót ở xác cây bệnh trong thời gian từ 27-36 tuần lễ ở 10-30 độ C và ở ẩm độ là 81-98%. Mầm bệnh không được lưu tồn trong hoặc trên hạt. Mầm bệnh còn được lan truyền mạnh mẻ qua các nguồn nước. Mầm bệnh có phổ ký chủ rộng và có tính biến động cao.
Cách phòng trị bệnh
- Dùng giống kháng bệnh. Tính kháng được bệnh là do cây có lượng phenol cao.
- Không bón nhiều phân đạm. Phát hiện sớm và thiêu hủy cây bệnh.
Phun thuốc ngừa bệnh  bằng Bordeaux , COC và trị bệnh bằng , Kasumin Starner hay Streptomycin . Liều lượng theo khuyến cáo trên bao bì.
i) Bệnh đốm vằn:
Sự phân bố và tác hại của bệnh
Ở Việt Nam, bệnh khá phổ biến. Bệnh nặng có thể làm giảm 40% năng suất. Bệnh thường phát triển mạnh khi có mưa nhiều, ẩm độ cao (100%), nhiệt độ cao khoảng 25-30 oC, ruộng được gieo trồng với mậc độ dày. Bệnh thường gây hại nặng khi cây bắp ở giai đoạn từ trổ cờ đến phun râu.
Triệu chứng bệnh
Các vết bệnh to, ướt, bất dạng, vằn vện xuất hiện trên thân, Lẹ lá, phiến lá và cả trên lá bi . Bệnh cũng tấn công vào hạt, làm hạt phát triển kém, hạt nhăn nhúm lại. Ở giai đoạn sau của bệnh, trong điều kiện ẩm ướt, trên vết bệnh có nhiều sợi nấm trắng và các hạch nấm nâu tròn. Bệnh xuất hiện sớm, thường làm cây con héo rủ.
Nấm bệnh có trong đất, rơm rạ. xác cây bệnh. Mầm bệnh có phổ Ký chủ rất rộng, gồm nhiều loại cây trồng và nhiều loài cỏ dại. Nấm được lưu tồn và lây lan ở hai dạng: sợi nấm và hạch nấm. Từ đất, sợi nấm bám vào mặt ngoài của thân cây, phát triển lên trên. Mặc dù bệnh có gây nhiểm vào hạt trên cây nhưng chưa có bằng chứng nào cho thấy rằng bệnh sẽ được truyền từ hạt vào cây. Nấm bệnh có tính biến động rất cao.
Cách phòng trị bệnh
Vệ sinh đồng ruộng, chú ý diệt cỏ dại.

I.2. Triệu chứng khi cây Ngô thiếu dinh dưỡng
1. Thiếu Đạm:
-    Các lá dưới bắt đầu vàng ở chóp lá và lan dần dọc theo gân lá chính.
-    Hiện tượng vàng lá sẽ chuyển dần từ các lá gốc lên các lá ngon và các lá gốc sẽ chết trước.
-    Trái nhỏ và hạt lép dẫn đến năng suất thấp.
-    Thiếu đạm trong giai đoạn cây con sẽ làm chết cây.
-    Cách khắc phục:
-    Bón phân có gốc đạm dễ tiêu cho cây như: Urê, DAP, SA....
-    Đối với nhiều loại đất tơi xốp thì nên bón Đạm với lượng ít nhưng nhiều lần bón.
2. Thiếu Lân: Thường xảy ra ở thời kỳ cây con
-    Lá có màu đỏ tím
-    Cây mọc thẳng, yếu.
-    Trái nhỏ, méo mó, hạt lép.
-    Thiếu lân dẫn đến hiện tượng chin muộn.
-    Cách khắc phục:
- Bón lót phân lân vào đầu vụ.
- Bón phân DAP để bổ sung lân trong các đợt bón thúc.
3. Thiếu Kali:
-    Dọc theo mép lá dưới có màu vàng hoặc nâu và lan dần vào gân lá và lên các lá trên.
-    Các đốt phía trên có màu nâu đậm.
-    Năng suất thấp.
-    Cách khắc phục:
- Cung cấp Kali kip thời trong các lần bón thúc cho cây trồng.
4. Thiếu Magiê:
-    Lá dưới xuất hiện các sọc trắng dọc theo gân lá, mép lá có màu đỏ tím.
-    Lá mỏng, cây yếu.
-    Cách khắc phục:
-    Khi bón lót nên bón phân lân nung chảy để cung cấp một lượng Mg cho cây trồng.
-    Có thể bón bột đá Dolomit để bổ sung Mg cho các vụ sau.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Sản phẩm

S.A Nhật S.A Nhật S.A Nhật Nitơ: 21%min Độ ẩm: 0.5%max Axit tự do: 0.03%max. Hàm lượng Nitơ: 21%min Độ ẩm: 0.5%max Axit tự do: 0.03%max.  
Ure Phú Mỹ Ure Phú Mỹ Quy cách bao gói   Sản phẩm được đóng trong bao bì hai lớp Lớp ngoài: PP Lớp trong: PE hoặc HDPE/LDPE, Khối lượng tịnh 50 kg. ...
NPK Phú Mỹ 16-16-8+13S NPK Phú Mỹ 16-16-8+13S Quy cách bao gói  Chỉ đóng bao loại 50kg Logo (Nhãn hiệu): ngọn lửa màu đỏ Slogan: Cho mùa bội thu màu đỏ Tên sản phẩm và công ...
Amôniac lỏng Amôniac lỏng Đạt chất lượng cao với các tiêu chuẩn cụ thể như sau: Hàm lượng NH3 : tối thiểu 99,8% Hàm lượng nước : tối đa 0,2% Tuy nhiên, từ khi ...
Sản phẩm sợi filament Sản phẩm sợi filament   Sản phẩm sợi polyester của nhà máy được sản xuất trên dây chuyền công nghệ thiết bị hiện đại của Barmag, sợi Filament Polyester có...
Polyester Staple Fibre (PSF) Polyester Staple Fibre (PSF) Sản phẩm xơ polyester của nhà máy được sản xuất trên dây chuyền công nghệ thiết bị hiện đại của Neumag, xơ Polyester có nhiều đặc tính t...
Sản phẩm hạt PET Chip Sản phẩm hạt PET Chip Sản phẩm hạt nhựa Polyester của nhà máy được sản xuất trên dây chuyền công nghệ thiết bị hiện đại của Uhde Inventa Fisher, hạt nhựa PET ...